Thuyền nhân

Submitted by daquy on Thu, 2007-01-18 23:44. |

Đã lâu lắm rồi tôi chưa đụng đến một quyển sách Việt. Hè năm nay, đột nhiên thấy da mình ... trắng quá, nên tôi nảy ý định phải ra phơi nắng cho mình đen hơn. Phơi nắng mà không làm gì cả thì chán lắm, nên tôi mò vào tủ sách của mình. Nhìn từng kệ sách phủ một lớp bụi mỏng mà chạnh lòng, hóa ra văn chương thi phú, và nhất là cái thú đọc sách đã trở thành một thứ xa xỉ trong cuộc sống tự lúc nào mà tôi không hề hay biết.

Sách của tôi tiếng Việt có, tiếng Anh có. Có những cuốn tôi đã đọc đi đọc lại hàng chục lần, có những cuốn chỉ đọc qua một lần, và cũng có những cuốn bị tôi "ngâm giấm" bấy lâu nay. Những cuốn tôi "ngâm giấm" đa số là những cuốn người ta tặng, hoặc tôi mua, sau này. Cuốn nào càng dầy, hoặc đòi hỏi "lao động" nhiều về trí óc thì tôi càng nản. Ngón tay tôi lướt hờ hững qua từng cuốn sách. Cuốn "Chiến Tranh và Hòa Bình" bản Anh ngữ nhìn dầy cui, thôi cho qua, vả lại tôi đã đọc qua bản Việt ngữ. Cuốn Sidhartha của Hess tôi đã đọc rồi. Rồi những Xuôi Dòng Cửu Long, Tình Đẹp Đất Long Hồ, To Kill A Mockingbird, v.v... Trong tôi bỗng nghe có tiếng thở dài thườn thượt, "I'm longing for a change ..."

Và tay tôi dừng lại ở cuốn "Thuyền nhân" của Mai Kim Ngọc. Cuốn sách do một người bạn tặng khi rời Canada sang Mỹ sinh sống. Sách còn mới toanh, phảng phất đâu đây mùi giấy mực trinh nguyên, chưa một lần được lật qua.

"Thuyền nhân", hai chữ nghe vừa thật xa lạ, mà vừa thật thân quen. Xa lạ, vì tôi chưa hề (bị) là thuyền nhân; thân quen, vì "boat people" là một trong những từ gắn liền với người Việt, như một dấu khắc ghi lại những cay đắng, tủi nhục, gian truân của dân tộc tôi. Dấu khắc đó, đối với tôi không phải là đẹp đẽ gì. Nó như một vết sẹo do lưỡi sắt nóng dí trên lưng tên tù khổ sai, để suốt đời tên tù đó mãi nhớ cái tội hình mà mình phải gánh chịu. Nhưng so với "thuyền nhân", thì tên tù khổ sai ấy còn may mắn rất nhiều, vì ít nhất khi hắn chết đi, vết sẹo đó cũng theo da thịt hòa tan vào lòng đất. Còn hai tiếng "thuyền nhân" nọ không phải chỉ theo đuổi dân tộc Việt có một đời, mà từ đời này sang đời khác. Nó theo đuổi không từ bất cứ một người nào, cho dù người đó có phải là "thuyền nhân" không, miễn họ là người Việt. Nó là một vết sẹo tinh khôn không chịu nằm trên da thịt mà bám vào trong đáy sâu thẳm nhất của tâm hồn.

Lúc người bạn đi, anh nói tôi nếu rãnh thì đọc cuốn Thuyền nhân này, đọc cho biết cảnh thuyền nhân ra sao, vì anh biết tôi sang đây bằng đường chính thức. Tôi ậm ừ cho qua, không muốn cho anh biết cái cảm giác muốn trốn chạy mỗi khi nghe đến hai chữ "Thuyền nhân". Tôi biết tôi trốn chạy những gì - đó là những cảnh bạo tàn trên biển Đông, cảnh hải tặc hãm hiếp cướp của giết người, cảnh đồng bào tôi tan xương nát thịt trong bụng cá, cảnh người và người ăn thịt nhau trên một chiếc tàu... Đừng hỏi tại sao tôi lại biết đến những cảnh tượng này và bị ám ảnh như chính người trong cuộc. Là người Việt Nam, không ai là không biết đến những cảnh tượng hãi hùng ấy. Người ta biết một cách rất tự nhiên, như hít thở không khí, như đói thì ăn, khát thì uống. Người ta biết, cho dù có là "boat people" hay không.

Nhưng lần này tôi quyết định không đầu hàng cái cảm giác trốn chạy của mình. Tôi đã khá lớn để đối đầu với đa số vấn đề trong cuộc sống một cách rất ... người lớn, nhưng với những cảm giác, những ám ảnh, những sợ hãi tinh khôn này thì tôi vẫn là một đứa bé con.

Và đứa bé con lần này quyết định đối đầu với cái cảm giác trốn chạy của nó khi nghe tới hai chữ "thuyền nhân". Nó sẽ đọc, đọc để biết những đau thương, những bạo tàn mà đồng bào nó phải hứng chịu với tư cách "thuyền nhân", trãi dài phơi bày trên giấy trắng mực đen. Nó sẽ đọc, mặc dù biết có người nào biết được những tâm tư này của nó có lẽ cười khẩy, "Vẽ chuyện, đạo đức giả. Cô lo nằm phơi nắng bị chán nên vớ đại cuốn tiểu thuyết nào đó để giết thời gian, chứ cô có "khe" gì về thuyền nhân với chả thuyền nhân..."

Trái với dự đoán của tôi, cuốn Thuyền Nhân không mở đầu bằng một chuyến vượt biên, mà bằng cảnh sống của thuyền nhân trong một trại tạm cư ở Hồng Kông. Gọi nôm na là "tạm cư", nhưng thực chất là một trại "tù". Cái chất "tù" đậm rõ qua một câu thơ nghe qua mà thấm thía: "Một đời không dám ngẩng đầu nhìn mây."

"Thuyền Nhân" được viết qua cái nhìn của Bách, nhân vật chính, một nhà văn ở Mỹ sang thăm trại tù thuyền nhân. Truyện không trực tiếp miêu tả những đau thương, bạo tàn, nhưng đâu đó lại có những chấm phá của dấu tích bạo tàn thương đau ấy. Có những con người tối ngày chỉ nằm ngửa, mắt mở trơ trơ nhìn lên trần nhà, hoặc có những con người suốt ngày chỉ cuộn mình trong chăn ngủ, như để quên ngày quên tháng. Có em nhỏ vẽ bức tranh có một cánh tay giơ lên giữa biển cả và trời đất mênh mông - cảnh một người nào đó bị chết đuối.

Và ấn tượng nhất đối với tôi là chuyện của anh Nghiệm. Anh này là bộ đội phục viên, nhưng lại vượt biên và trở thành một trong những thuyền nhân ở trại tù HK này. Anh ấm ớ khi bị hỏi về lí do tại sao lại bỏ nước ra đi, đi tị nạn kinh tế, hay chính trị? Chính trị cũng không hẳn, mà kinh tế thì cũng chẳng đúng nốt. Dài dòng, anh kể lại chuyện người anh và bà chị dâu, vốn là trí thức tu nghiệp từ Liên Xô trở về, mà vì cái xã hội tính toán từng điếu thuốc, miếng thịt, cọng rau này mà trở nên hèn người đi. Anh chán nản, muốn thóat khỏi cảnh sống này. Và như ông bác học nào đó nhảy nhổm lên hô "Eureka", anh như reo lên, "Vâng, tôi đi vì muốn tìm lại nhân phẩm của mình."

oOo

Nhân phẩm, chợt nhớ đến Bố ...

Qua đây vài năm mới được nghe Nội tôi kể lại. Tôi sinh sau khi chiến tranh kết thúc được vài năm, và khi tôi đến tuổi vào mẫu giáo thì Bố tôi không cho vào, nhất định dạy cho tôi tại nhà. Nội kể dạo ấy tôi nói chậm lắm, mà lại ít nói nữa, chỉ biết suốt ngày chơi với con mèo. Sau một hai năm trông cảnh tôi mỗi chiều nhìn đám trẻ đồng trang lứa đi học về mà thèm thuồng được như họ, Nội mới năn nỉ Bố, và khóc gần hết nước mắt mới được Bố cho tôi đi học như người ta. Nội tôi kể là Bố không muốn sau này tôi chỉ có biết Bác và Đảng, không biết gì đến cha mẹ nên không cho tôi đi học. Ngày đầu tiên nhìn tôi đến trường, bố ứa nước mắt, cảm thấy như đã bị mất đứa con gái từ đây.

Nỗi lo lắng của Bố nhanh chóng trở thành hiện thực. Tôi, cũng như hàng ngàn đứa trẻ cùng trang lứa khác, bị cuốn nhanh vào vòng hào quang của "cháu ngoan bác Hồ". Tôi nhanh chóng căm thù "Mỹ Ngụy", chỉ cần nghe những gì liên quan đến Mỹ là không ưa rồi. Và tôi dần dần nhận thấy bố mẹ tôi, đặc biệt là bố, không thuộc về cái xã hội này. Cái xã hội mà trong đó năm mười tuổi đã được thầy cô dạy phải biết nói dối, phải biết ăn gian, mánh mung, luồn lách. Đây cũng là cái xã hội mà trong một lần đi chợ mua được con gà, thoáng thấy bà cán bộ phường đi tới từ đằng xa thì mẹ tôi lật đật dắm dúi để con gà ở tuốt dưới đáy giỏ, và đặt một bó rau muống to tướng che ở trên. Thấy tôi mở to mắt nhìn, mẹ giải thích, "Nó biết mình ăn gà thì phiền lắm con ạ!"

Khi tôi lớn hơn được một chút, có ít nhiều hiểu biết về những việc chung quanh mình thì việc "đi" đối với đám trẻ chúng tôi là một điều "tự nhiên". Lúc đó cái khái niệm chính trị hay kinh tế chẳng là gì cả đối với chúng tôi, chỉ biết có một điều là "đi" vì ở bên Pháp, bên Mỹ hay Canada sẽ được sống khá hơn. Lớp của tôi lâu lâu lại vắng đi một đứa, không kèn không trống. Còn có những đứa được đi chính thức thì lại rềnh rang mở tiệc mời bạn bè đến chung vui, còn xin địa chỉ búa xua để "khi qua bển tao sẽ viết thư cho tụi mày".

Lúc gia đình tôi đi, bố tôi cũng chẳng thèm nói một lời là tại sao gia đình mình phải đi. Sau này, trên giường bệnh, bố bảo đi là cho tương lai của tôi. Ở nơi xứ người, bằng chính nỗ lực và tài năng của mình, tôi sẽ có một sự nghiệp và cuộc sống đầy đủ, hạnh phúc, chứ không phải như Việt Nam mình ...

Nghĩ đến đây, tôi đột nhiên muốn nói với bố. Bố ạ, ở VN, nếu con biết luồn lách, gian lận, mánh mung, thì sợ gì không có được một cuộc sống ấm no hở bố? Bố xem, bây giờ người ta chả cần học, chỉ cần vài trăm ngàn là có một mảnh bằng đại học ngon ơ, hoặc nếu con muốn có một việc làm như ý thì chỉ cần đem phong bì nặng một chút tới nhà giám đốc hay thủ trưởng. Hàng triệu người đã và đang làm được ấy chứ. Ban đầu mồm miệng có lẽ sẽ ngượng, da mặt có lẽ sẽ ran rát, nhưng sau một thời gian thì đâu sẽ vào đấy bố à. Miệng mồm sau đó sẽ trơn hơn bôi mỡ, da mặt sẽ dày hơn da trâu, vì lọc lừa dối trá cho mưu sinh thì ai chả quen?

Dĩ nhiên tôi không nói như vậy với bố, vì tôi biết cái mà bố muốn thấy là tôi vẫn còn giữ được một chút nhân phẩm của mình.

oOo

Cũng từ Nội tôi kể lại, trong những năm đầu của thập niên 80 gia đình tôi chút xíu nữa là đã đi vượt biên. Lần ấy tàu đã được lo sẵn sàng, chỉ cần ra đi buổi tối hôm đó mà thôi, nhưng cuối cùng không biết vì lý do nào bị trục trặc, và chuyến đi bị hoãn lại. Như tôi đã có nói, ở thời điểm đó, "ra đi" là một điều tự nhiên - ai đi được thì đi, ai không đi được cũng ráng sống chết mà đi, chẳng ai tha thiết ở lại cái mảnh đất chữ S vừa mới dành được độc lập từ trong tay Mỹ Ngụy này. Gia đình tôi dĩ nhiên cũng không ngọai lệ.

Thế là chút xíu nữa tôi đã có thể trở thành một "thuyền nhân", như hàng vạn những người con dân đất Việt khác. Giờ này đây tôi có thể cũng vẫn là tôi bây giờ, ngồi đây đánh lóc cóc những hàng chữ này; mà cũng có thể tôi đã không còn trên cõi đời này khi mấy chục năm trước thịt xương đã vào trong bụng cá, hoặc cũng có thể tôi vẫn còn lây lất trên đời, mang những vết thương tâm hồn không bao giờ gột xóa được. Có lẽ Bố tôi đã lường trước được những hiểm họa đang chờ đợi chúng tôi trên đường đi, nên sau trục trặc đó Bố quyết định không đi nữa. Thời điểm đó con đường chính thức duy nhất cho gia đình tôi là đi theo diện bảo lãnh anh chị em, một trong những diện khó khăn nhất. Đa số các chính phủ lúc đó chỉ ưu tiên xét những trường hợp bảo lãnh vợ chồng, cha mẹ con cái, còn bảo lãnh anh chị em bị đặt vào hàng chót. Nội kể lúc quyết định ở lại để chờ đi theo đường chính thức, lòng Bố tôi rất dằn vặt. Một mặt Bố chỉ muốn thóat khỏi cái chế độ này càng sớm càng tốt, một mặt Bố quyết định chờ đi theo diện bảo lãnh, một cái chờ gần như trong vô vọng.

Còn tôi thì sao? Lúc đó tôi quá nhỏ để có thể hiểu hoặc chia xẻ những cái ưu tư, cái trầm ngâm của Bố. Chỉ có điều tôi đủ khôn ngoan để không chơi giỡn la hét rầm rầm những khi thoáng thấy Bố châm điếu thuốc, ngồi suy tư nhìn ra bầu trời đen kịt sắp trở cơn giông, hoặc những buổi trưa hè nhìn bố nằm trên võng kẽo kẹt, vắt tay lên trán suy tư. Sau này khi qua đây Bố mới nói với tôi, ở với CS, nếu chúng không đày đọa người dân qua cái bao tử, thì chúng cũng đày đọa chúng ta về mặt tâm hồn, hoặc tàn nhẫn hơn, cả hai. Gia đình tôi, tuy may mắn hơn nhiều gia đình khác lúc bấy giờ, là không phải chi li tính toán từng miếng thịt cọng rau, nhưng con người ta đâu phải chỉ sống bằng cái bao tử.

oOo

Một trong những cái "đày đọa tâm hồn" mà Bố tôi nói đó, tôi hiểu, là sự bất lực của Bố Mẹ khi nhìn tôi dần dần bị "nhuộm đỏ", mà không thể làm được điều gì. Nếu nói đó là một cuộc chiến giành giật tôi giữa Bố Mẹ và cái chế độ thời bấy giờ, thì đó là một cuộc chiến mà lực lượng tương quan giữa hai bên quá chênh lệch. Một bên là ánh hào quang của "cháu ngoan" bác Hồ, ánh oai hùng của các chú bộ đội "chống Mỹ cứu nước", cái vinh dự được vào Đội, vào Đoàn, và cuối cùng là vào Đảng. Một bên là hai con người bình thường, chỉ biết đem cả tình thương ra để dẫn dắt con cái đi trên con đường phải của lương tâm, biết phân biệt thị phi đúng sai. Nhưng trong cái xã hội này, tình thương dường như không có chỗ đứng. Một câu nói hớ hênh, đứa con có lẽ sẽ vào "méc" với thầy cô; một hành động nào đó chống lại Bác và Đảng, đứa con có lẽ sẽ đưa cả bố mẹ vào tù. Để được chấp nhận vào cái xã hội này, đứa con phải tung hô Bác, phải coi những lời của Đảng là chân lý, phải coi những ai chống lại chế độ là thành phần phản động. Những cái vòi bạch tuột (theo một cuốn phim giống tên rất ăn khách của Ý trong những năm 80) của chế độ đã bung ra thì một đứa bé con như tôi làm sao có thể chống cự. Là một đứa bé, chẳng ai là không muốn thuộc vào cái xã hội mình đang sống, không ai muốn thấy mình bị nghỉ chơi, bị đứng ngòai lề xã hội cả.

Nhưng nói cho cùng, những chiếc vòi bạch tuộc ấy tuy siết chặt trẻ con thật, nhưng chúng chỉ thành công trong việc "nhuộm đỏ" tâm hồn chúng tôi, còn cảm giác thì không. "Cảm giác" con người về đúng sai tốt xấu hình thành qua kinh nghiệm tích lũy theo thời gian, nhưng khi còn bé thì cái "cảm giác" ấy là do bẩm sinh, do thiên tính, mà nếu đã là bẩm sinh thì khó có thể nào sai. Lúc đó, mặc dù là "cháu ngoan", cháu rất ngoan, của bác Hồ, nhưng tôi vẫn dần dần nhận ra được cái không khí nghẹt thở bao trùm lên người dân trong xã hội bấy giờ.

oOo

Mẹ hay phàn nàn tôi rất khó ngủ, khó ngủ từ lúc bé. Tôi chỉ ngon giấc trong một không gian tối thui, hoàn toàn tĩnh lặng. Một tiếng động nhỏ, một nhấp nháy đèn cũng đủ làm tôi tỉnh giấc. Cái tính khó ngủ này đã hình thành trong tôi một thói quen sống về đêm, mặc dù tôi chẳng biết thói quen này tốt hay xấu nữa. Về đêm, đầu óc tôi càng linh họat, minh mẫn lạ thường. Tôi chỉ ngủ vô khi đã quá mệt mỏi, khi các giác quan của tôi càm ràm chúng cần một giây phút nghỉ ngơi.

Có một điều mà có lẽ Bố Mẹ tôi không hay biết, và tôi cũng không định nói ra, là tôi biết cái tật khó ngủ của tôi bắt nguồn từ đâu. Nó bắt nguồn ở VN, từ những đêm tôi còn rất bé nhỏ, nằm cuộn mình trong chăn, đã bịt lỗ tai lại nhưng vẫn còn nghe những tiếng chửi lớn lối, tục tằn từ các gia đình "kinh tế mới" sống vất vưởng trước nhà mình. Nó bắt nguồn từ những tiếng đập cửa rầm rầm nửa đêm, tiếng Mẹ thảng thốt gọi Ba dậy, tiếng chân đi, chạy thình thịch, cùng những ánh đèn pin nhấp nháy rọi thẳng vào mùng tôi. Nó bắt nguồn từ những cộc cằn của các "chú" công an đi kiểm kê "nhà" lúc mọi người dân đang an giấc điệp, và nỗi ấm ức của tôi khi thấy mỗi lần "kiểm kê" là mỗi lần nhà tôi lại mất đi một vài thứ quý giá. Nó bắt nguồn từ nỗi lo sợ của tôi khi trong một lần xét hộ khẩu giữa đêm, hai người cô và chú ở chung một nhà với chúng tôi đã bị đuổi ra không thương tiếc, chỉ vì họ không có tên trong hộ khẩu của gia đình. Đêm, đối với tôi lúc đó, là đồng nghĩa với bất an, với sợ hãi, với những cái không may cứ chực treo lơ lửng trên đầu.

Chỉ có mấy tuổi đầu, nhưng tôi như đã là một con thú con. Đêm về, tai tôi trở nên thính hơn bao giờ hết. Có những đêm tôi nằm yên đó, không cục cựa, để Bố Mẹ tưởng tôi đã cùng một bà tiên nào đó đi chu du trong giấc mộng thật đẹp, nhưng thật sự, tôi không ngủ. Tôi nằm như để canh chừng, không cho ai đụng đến Bố Mẹ, đụng đến cái gia đình nhỏ bé, hoàn toàn không đủ khả năng tự vệ này, của chúng tôi.

Một điều nữa mà Bố Mẹ tôi ắt hẳn cũng không biết, là tôi biết niệm Phật khá sớm, do Nội tôi dạy. Nội dạy rất đơn giản, là nếu gặp ma quỷ, thì con cứ niệm "Nam Mô A Di Đà Phật" là quỷ nó chạy hết trơn à. Những lúc nhà bị đập cửa lúc nửa đêm, những lúc bị kiểm kê, bị xét hộ khẩu, thì tôi lại niệm câu Nam mô ấy, để trấn áp cái nhịp tim cứ thình thịch, thình thịch của tôi.

Và cái cảm giác, cái linh tính bẩm sinh của trẻ con đã dần dần hé mở cho tôi biết, ít nhất là trong vô thức, là cái chế độ này không tốt đẹp như người ta vẫn ra rả ca ngợi hàng ngày. Tệ hơn nữa, nó rất có thể là cái chế độ của ma quỷ. Không một ngôn từ hoa mỹ, không một tuyên truyền nhồi sọ nào có thể che giấu được điều ấy.

oOo

Những ai đã sống qua thập niên 80 ở VN không thể không nghe hoặc không thấy hiện tượng dân kinh tế mới. Cho dù còn rất nhỏ và chẳng hiểu "kinh tế mới" là như thế nào, tôi cũng biết dân "kinh tế mới" chỉ một đám người sống vất vưởng không nhà không cửa, nay đây mai đó. Họ sống ở mọi nơi mà có thể giăng một cái mùng hay tấm lều làm mái che thân, trước cửa nhà người, dưới chân cầu, bãi đất hoang, v.v... Đối với người dân có nhà cửa, chẳng ai muốn thấy một gia đình kinh tế mới "chọn" trước nhà mình làm nơi cư ngụ, nhưng đa số không ai muốn gây sự với họ - những con người ở bước đường cùng, những con người ở ngòai lề xã hội, hoàn toàn không có cơ hội ngoi lên.

Dạo đó, có một gia đình kinh tế mới cư ngụ trước nhà gia đình tôi. Nói đúng hơn, trước họ cũng đã có nhiều dân kinh tế mới khác ở qua, nhưng những người này ở chỉ trong một thời gian ngắn rồi lại đi, chỉ có gia đình mà tôi sắp nói tới đây ở lâu hơn cả. Gia đình này chỉ gồm có bà mẹ cùng hai đứa con trai (đứa lớn) và con gái (đứa nhỏ). Ông chồng lâu lâu mới xuất hiện, nhưng tôi chỉ biết đến sự hiện diện của ông khi ông say khướt trở về "nhà" những lúc nửa đêm, chửi thề, la lối ỏm tỏi. Chính ông và những tiếng chửi thề của ông, cùng những cái dơ dáy bẩn thỉu điển hình của dân kinh tế mới, đã làm một đứa bé sống trong no ấm và bảo bọc yêu thương như tôi, e sợ. Từ e sợ, dẫn đến có đôi chút gì đó khinh thường. Đối với tâm hồn đơn giản của tôi, dân kinh tế mới là những người bị xã hội, bị mọi người khác "nghỉ chơi." Họ chắc là xấu lắm mới bị người ta "nghỉ chơi" như vậy.

Nhưng bố tôi lại làm tôi ngạc nhiên khi bố tỏ ra có thiện cảm với những người bị "nghỉ chơi" này. Bố không nói gì nhiều, chỉ diễn tả bằng hành động. Mỗi sáng, gia đình kinh tế mới nọ lục tục sắp xếp mùng mền xoong chảo bỏ vào hai ba chiếc giỏ lớn, gửi nhờ tại gia đình tôi, và đến chiều khi về họ xin lại. Tôi chẳng biết cái "thỏa hiệp" này có từ bao giờ, nhưng chắc chắn phải được bố tôi chấp thuận họ mới có thể gửi đồ. Còn một lần, bố vào nói với mẹ, "Em ạ, thằng nhỏ trước nhà xin mỗi chiều cho nó hai thau nước để nấu cơm giặt giũ gì đó. Em cứ cho nó, em nhé. Tội nghiệp ..." Thế đấy, bố tôi đối đãi với tha nhân bằng một cõi lòng rộng mở như vậy, nhưng sau này tôi mới biết là không những thế, bố còn có một thông cảm sâu sắc với hoàn cảnh của người dân kinh tế mới. "Họ khổ lắm, mà nhiều người họ cũng như gia đình mình thôi, con ạ." "Như gia đình mình là sao, hở bố?" Bố tôi trầm ngâm, chẳng trả lời.