Phút Chia Tay
Nắng lung linh chiếu qua kẽ lá khi chiếc xe đò đang lao vun vút trên con đường quê chật hẹp. Hai bên đường là những mái nhà tranh lụp xụp với những cây to có nhánh dài như cánh tay vươn ra đến tận ngoài mặt lộ. Những tàn lá quẹt vào cửa kính của chiếc xe đò tạo ra âm thanh xào xạc nghe rất lạ tai. Đâu đó có những trẻ em cùng vài chú gà con líu lo chạy nhảy trên sân của những ngôi nhà cũ kỹ nghèo nàn. Nó ngồi yên lặng để tận hưởng giây phút sung sướng được xa lìa cái thành phố ồn ào náo nhiệt đầy bụi bặm. Xe từ từ rời những làng quê chật hẹp và bắt đầu đi vào con đường xa lộ vắng vẻ trực chỉ về hướng vùng biển miền Trung Việtnam. Khi bóng nắng đã ở đỉnh đầu, anh lơ xe đò cho biết là xe đã vào địa phận của tỉnh Bình Tuy-Phan Thiết. Giờ đây một bên đường hiện ra những ngọn núi cao được che kín xanh rì một màu bởi những cây chuối hoang. Khoảng một lúc khá lâu sau, chiếc xe dừng lại nơi một quán ăn xập xệ. Nó theo ba nó xuống xe tại chỗ này. Vào quán ăn, ba nó gọi 2 dĩa cơm trứng chiên với khổ qua cùng 2 ly nước ngọt. Nó ăn uống một cách ngon lành vì từ lúc xe rời bến hồi sáng sớm đến giờ nó chưa có gì trong bụng và nó cũng chưa bao giờ ăn được ăn một dĩa cơm đơn sơ nhưng ngon lành như dĩa cơm ngày hôm đó. Ăn xong, nó lết bộ theo ba nó vào một con đường nhỏ quanh co. Một lúc sau, nó dừng chân trước một căn nhà sàn bằng gỗ nhỏ bé nằm ngay trên một dòng nước giống như một con lạch hay một con sông nhỏ. Trong khi ba nó vào trong nhà trò chuyện thì nó đứng trước sân làm bộ tỉnh queo như nó là dân của một làng quê chính hiệu, ở một nơi khác và mới đến nơi đây để thăm một người quen. Những đứa bé cùng cỡ hay nhỏ hơn nó đang đùa dỡn ở gần cứ thỉnh thoảng liếc nhìn nó. Một lúc sau, ba nó bước ra và từ giã nó để về Saigon.
Với cái túi vải trên vai, nó giới thiệu tên nó và đi theo 2 thằng con trai lạ mặt lớn hơn nó độ vài tuổi. 2 thằng này dẫn nó đi qua những con đường đất khác để đến một nơi mà nó sẽ cư ngụ trong vài ngày sắp đến. Nắng buổi trưa chiếu ran rát trên mặt, trên cổ, và trên khắp thân thể. Cái nắng tại đây làm nó thấy nhớ Saigon, nhớ những buổi đi đá banh với đám bạn, nhớ những bóng râm trong sân trường Đắc Lộ, và những ly nước mía lạnh ngắt ngọt lịm mà nó hay uống sau nhiều buổi đá banh mệt mỏi. Nó liếm mép và ước ao phải chi giờ này có được những ly nước mía đó thì sung sướng biết bao. Đi được một đỗi khá lâu, chúng nó đã đến một ngôi nhà lá nhỏ bé nằm giữa một nơi khỉ ho cò gắy, chung quanh chỉ toàn là cây và cỏ dại. Cái nhà lá đó rỗng tuếch không có cửa và cái mái lá duy nhất lại bị hở 1 lỗ to. Bên trong nhà có 1 cái giường tre khá rộng cùng vài cái ghế lùn xịt cũng bằng tre. Nó quăng bị quần áo xuống giường và ngồi lấy chút hơi thở. 2 thằng kia bảo nó nghỉ mệt một lúc đi rồi sẽ khởi hành đến bãi đáp, bãi đáp là nơi mà tàu sẽ ghé vào để đón dân đi vượt biên như nó. Khoảng nửa tiếng đồng hồ sau, nó theo 2 thằng kia lên đường đi thăm bãi. Lội bộ qua một con đường dài khác dưới cái nắng gay gắt nó thấy như hoa cả mắt. Tiếng sỏi đá kêu sột soạt dưới đôi dép, tiếng hỏi thăm của vài người dân làng khi thấy bóng 2 thằng con trai nọ cùng nó đi qua, và tiếng cọc cạch của vài chiếc xe đạp trên con đường quê khiến nó cảm thấy thích thú tuy lòng có phần hồi hộp. Nó kín đáo quan sát những người mà nó gặp dọc đường để coi có ai nhìn nó với cái nhìn khác thường hay không, và cũng để thử suy đoán xem những người dân tại đây là loại người như thế nào, có thể gây trở ngại cho nó và gia đình nó trong chuyến đi sắp đến hay không. Lội bộ một lúc khá lâu thì đường đi đã thấy vắng bóng người, lúc này nó cũng bắt đầu đi đến một con dốc thật cao như một ngọn núi nhỏ. Nó hì hục leo từng bước một, ráng giữ cho thân thể được thăng bằng để khỏi té ngược về đằng sau. Leo lên cao hơn nữa thì nó bắt đầu nghe thấy tiếng rì rào mỗi lúc một rõ hơn nhưng không rõ là tiếng đó phát ra từ đâu. Khi đã lên đến đỉnh con dốc, nó đứng lại để thở và sững sờ vì khung cảnh trước mặt: trải dài đến tân chân trời là biển cả xanh biếc, một màu xanh thẫm tuyệt đẹp lóng lánh dưới nắng chiều. Vịn tay vào thân một cây dừa trên đỉnh con dốc, nó cảm nhận được sự hoang vắng, mênh mông tại nơi này. Bên dưới xa xa là những làn sóng trắng xoá đánh ập lên bờ cát mịn thoai thoải chạy gần như ngút ngàn bên trái và bên phải của nó. Bãi biển hoàn toàn vắng lặng, không một bóng người ngoại trừ nó và 2 thằng con trai kia. Nắng đã ngả chiếu nghiêng nghiêng qua bóng lá, nó vẫn còn đứng bất động trước cảnh đẹp thiên nhiên không bút mực nào diễn tả nổi. Nó dõi đôi mắt ra khơi, cố gắng nhìn xa thật xa, nhìn tận nơi cuối chân trời mà ao ước một ngày nó sẽ ra đi và được đoàn tụ cùng hai người anh của nó nơi xứ người. Có tiếng kêu réo lôi nó về với thực tại, nhìn xuống triền dốc, nó thấy 2 thằng con trai kia đang nô đùa trong làn nước, thế là nó bắt đầu chạy xuống con dốc và lao vào vùng sóng trắng xoá.
oOo
Sau khi tắm xong, chúng nó bắt đầu thấy đói bụng và tính đến chuyện ăn chiều. Trên đường đi bộ về căn nhà lá, 2 thằng con trai kia rủ nó cùng đi đào lỗ để chặn bắt những con nhông (giống như con thằn lằn lớn) để đem về làm món ăn chiều. Nhìn những con nhông gớm ghiếc nó lắc đầu ngao ngán nhưng chúng nó cũng bắt đươc hơn một chục. Khi cơm chiều được dọn ra trên giường, những con nhông nướng đen xì đã được làm xong, còn nguyên đầu và đuôi với lớp da sần sùi chưa lột, nằm chình ình trên cái dĩa. Nó thấy kinh hãi không dám rớ vào dù chỉ là một miếng nhỏ, và chọn ăn cơm với rau và khoai mà thôi. Đêm đó, nó tỉnh giấc giữa canh khuya vì lạ nhà, và vì tiếng ễnh ương kêu thảm thiết ở bên ngoài. Nhìn sao trời lấp lánh qua lỗ hổng của cái mái lá mà nó thấy ngậm ngùi vì sao mà gia đình nó phải phân tán, và nó phải bôn ba để đến tận nơi này. Khoảng 1 tuần sau, nó từ biệt 2 thằng con trai nọ để về lại Saigòn. Về đến thành phố vào lúc xế chiều, xuống cái bến xe đò ở gần nhà, nó liền tạt ngay vào một con hẻm vắng (theo lời mẹ nó dặn), tìm một chỗ khuất bóng, nhìn quanh quẩn không thấy có ai, liền cởi bỏ bộ đồ bà ba màu nâu đang mặc trên người, lẹ tay vất xuống đất. Mặc nhanh vào người cái quần cụt vải khaki với chiếc áo thun sạch sẽ ra vẻ như nó mới đi chơi đâu về, và rủng rỉnh đi bộ với 2 tay đút trong túi quần. Nó chậm rãi đi ngang qua cái văn phòng Cách Mạng Phường sát bên nhà, trước mặt mấy chú lính đội mũ tai bèo đang đứng gác, mà không một ai để ý là nó vừa mới trở về sau một chuyến đi xa. Một tháng sau một người liên lạc ở Bình Tuy vào báo tin cho hay ông chủ tàu và nhóm người thân cận của ông ta đã bị chính quyền địa phương bắt giữ vì tội âm mưu đưa người vượt biển. Thế là cái công đi dò đường của nó bỗng trở thành công cốc nhưng may mắn thay gia đình nó chỉ bị mất một số tiền chứ chưa đến nỗi bị bắt và bị tù tội. Thế là ba mẹ nó lại ngấm ngầm lo toan cho một chuyến đi khác.
Một thời gian ngắn sau, vào một buổi sáng khi trời còn tờ mờ tối, nó theo ba nó đến một ngôi nhà lầu lớn ở Saigon. Sau vài phút ngắn ngủi trao đổi với một ông người Tàu, ba nó cùng ông nọ lặng lẽ rời ngôi nhà kia. Chỉ còn lại một mình nó trong ngôi nhà rộng với một cô gái trẻ lớn tuổi hơn nó. Cô gái này cứ hay nhìn nó rồi mỉm cười. Cô có đôi mắt đẹp, sáng ngời, và lúc nào cũng như toả lộ một sự ấm áp, thân thiện, cùng với khuôn mặt hiền hậu nhìn rất có cảm tình. Cô mặc bộ quần áo nhạt màu giống như một vị ni cô. Đầu quấn một cái khăn màu xám nhạt nên nó không nhìn thấy được tóc. Cô dịu dàng hỏi thăm nó vài câu và nó trả lời một cách ngượng ngùng e dè. Có lẽ nghĩ là nó ngại nói chuyện với người lạ nên cô đã thôi không nói gì nữa mà chỉ ngồi yên để đọc quyển sách. Thỉnh thoảng cô nhìn nó với một cái nhìn lạ lùng khó tả. Nhiều năm sau, khi đã rời khỏi VN, nó vẫn còn nhớ đến cái nhìn của cô gái ấy. Khoảng gần giữa trưa thì mẹ nó ghé lại ngôi nhà đó để đón nó về. Thì ra là vì chiếc Tàu đã được đang ký bởi nhiều người rồi và đã gần hết chỗ nên ông chủ Tàu muốn gặp nó để coi nó là người ra sao. Sau khi gặp nó xong ông đã quyết định sắp cho nó một chỗ chung trong khoang tàu với gia đình của ông ta.
Sáng hôm sau, nó theo mẹ ra bến xe và trực chỉ đường xuôi nam về Mỹ Tho. Nơi đến là một căn nhà to với nhiều tầng lầu dùng làm nơi trú ngụ cho những người Việt gốc Hoa sửa soạn ra đi khỏi Việtnam. Chung quanh nó toàn người Hoa và họ xí xa xí xố với nhau bằng thứ ngôn ngữ mà nó không tài nào hiểu nổi. Mẹ nó dúi vào túi nó một ít tiền, bảo là dùng tiền đó để ăn trưa, ăn tối, và ăn bất cứ cái gì mà nó thích. Khoảng vài giờ đồng hồ sau, mẹ nó từ biệt nó để về Saigon. Chiều hôm đó, nó rảo bộ ra chợ Mỹ Tho để kiếm đồ dằn bụng và lang thang rảo bước bên bờ sông Mỹ Tho để hóng gió. Phố Mỹ Tho hình như không lớn lắm vì nó không thấy đường xá tấp nập, xe cộ chen chúc như ở Saigon. Hai ngày sau, mẹ nó đến thăm và dẫn theo chị của nó. Vì lo lắng là nó ra đi không có người lớn ở gần để săn sóc nên mẹ nó đã năn nỉ và được ông chủ Tàu đồng ý cho chị nó cùng đi với nó. Ba mẹ nó, em gái, và một chị gái khác sẽ phải ở lại để chờ đi chuyến sau vì chuyến này đã hết chỗ. Khoảng 5 ngày sau, vào một buổi trưa, nó được lệnh phải sắp hàng vào trong nhóm để khởi hành. Mỗi nhóm gồm khoảng 12 người và do một nhóm trưởng dẫn đầu. Với sự hướng dẫn của Công An địa phương, đoàn người dài ngoằn nối đuôi nhau đi bộ ra hướng sông Mỹ Tho. Hai bên đường là 2 hàng Công An áo vàng đeo súng đi theo để bảo vệ cho chuyến đi được trật tự. Nó thật kinh ngạc vì không ngờ người đi vượt biên lại được công khai đi giữa ban ngày trước sự chứng kiến của hầu hết những người dân địa phương. Mẹ nó cũng đi theo kế bên nó, dặn dò những gì mà nó cũng chẳng nhớ rõ. Chị nó thì được chỉ định vào một nhóm khác và chìm lẫn trong đoàn người phía sau lưng. Đến bến đò trên sông Mỹ Tho, nó thấy rất nhiều đò máy đang sẵn sàng để đưa những người vượt biên ra đi. Bước xuống chiếc ghe nhỏ, đi dần về mũi ghe để tìm một chỗ ngồi, nó chợt nhớ tới mẹ nó và khi đã ngồi yên, nó quay đầu lại nhìn mẹ nó lần cuối. Tim nó bỗng như chùng xuống vì thấy mẹ nó với khuôn mặt thật buồn đang đứng lẫn trong đám người đưa tiễn. Giây phút này, nó chợt hiểu là chỉ trong chốc lát nó sẽ xa rời tất cả và sẽ mất tất cả. Lặng người với nỗi buồn, nó ráng thâu vào ký ức hình ảnh mẹ nó trong những giây phút chót. Hình bóng người mẹ thân thương của nó cứ mờ dần, mờ dần khi con thuyền từ từ xa dần, xa dần.
oOo
Chiếc ghe máy chạy trên sông được một lúc thì tấp vào một cù lao nhỏ dường như ở giữa giòng sông. Tại đây nó phải ở lại chờ cho đến tối mới được cho chiếc lên Tàu lớn để ra biển. Nó còn cũng khá nhiều tiền nên bèn mua một vài món trái cây ăn cho đỡ thèm và cũng để xài bớt số tiền hiện đang có. Người buôn kẻ bán rao hàng oang oang trên cù lao nọ. Ai ai cũng cố gắng ăn xài, mua bất cứ cái gì vì biết chẳng còn bao lâu nữa thì những tờ tiền giấy cụ Hồ sẽ trở thành vô dụng. Khi bóng đêm buông xuống trên cái cù lao nhỏ bé, tất cả những người buôn bán đều bị đuổi đi nơi khác, nó im lặng sắp hàng và chờ đợi để nghe đọc tên. Khi đến tổ của nó được kêu tên, từng người một lên tiếng và bước tới trước. Nó nhẩm đi nhẩm lại cái tên ở trong bụng, vì là tên của một người Hoa, tên giả chứ không phải tên thật của nó, nên nó phải ráng nhớ để nếu nghe thấy thì nó phải trả lời cho lẹ làng. Đến phiên nó được gọi, nó nhanh nhẹn bước đến gần người Công An cầm danh sách. Một người Công An khác đứng kế bên liền rọi đèn pin vào mặt nó để nhận diện. Không biết họ muốn coi cái gì nhưng sau đó nó được phép bước lên chiếc thang gỗ để vào chiếc Tàu lớn. Vào trong con Tàu, dưới ánh sáng của vài chiếc đèn dầu con treo lủng lẳng, lờ mờ, nó thấy có rất nhiều bình nước to bằng nhựa màu trắng được sắp xếp sát bên thành Tàu. Khoang Tàu thì trống rỗng, được đóng với nhiều thanh gỗ có kẽ hở bên dưới. Người đi sẽ phải ngồi phệt xuống sàn như ngồi trên một cái giường. Tàu có 3 tầng, tầng của nó ở trên cao nhất vì trên đầu của nó là cái sàn Tàu. Nó không biết người chị của nó đã bị đảy xuống tầng nào vì nó hoàn toàn không nhìn thấy chị nó sau khi nó đã vào Tàu. Trên đầu nó là một cửa sổ khá lớn, khi mở lên thì sẽ trông thấy bầu trời đêm và hít được hơi gió thoáng mát. Khuya đó, Tàu bắt đầu nổ máy bình bịch và từ từ di chuyển chậm chậm trên sông. Nó ngồi bó gối, nghe tiếng xình xịch đều đều bên tai và đã ngủ gục lúc nào không hay. Khi tỉnh dậy, nhìn qua khoang cửa sổ bé tí xíu ở bên hông tàu, nó thấy trời đã sáng và Tàu nó đang ở ngoài biển. Biển vẫn một màu xanh thẫm và xa xa có những con Tàu đánh cá khác có lẽ đang làm công việc giăng lưới như thường lệ. Nó hồi hộp và thầm cầu xin ông Trời che chở cho nó cùng mọi người được bình an. Nó bỗng nghĩ đến mẹ nó và không biết giờ này mẹ nó đang ở đâu, có hay là nó đang lênh đênh trên biển không. Tàu chạy được một lúc khá lâu thì mọi người bắt đầu ói mửa vì say sóng. Nó cũng nôn mửa liên hồi, nhiều lúc chưa kịp lấy hơi thở thì chất lỏng trong bụng cứ nôn ra ùng ục, và tuôn đổ xuống đầu những người ngồi ở tầng dưới. Có nhiều tiếng chí choé chửi bới giọng lơ lớ từ bên dưới vọng lên nghe rất buồn cười nhưng ai ai cũng đều mệt lả nên chẳng ai còn hơi sức đâu mà để ý hay nói lời phân trần, giải thích. Nôn mửa một lúc khá lâu thì nó từ từ thiếp đi vì mệt. Nó cũng không quên choàng tay qua một cái bình nước lạnh ở sau lưng để rủi mà Tàu có bị bể trong khi nó đang ngủ thì nó còn có thể ôm vào cái bình nước bự này cho khỏi bị chìm, nó nghĩ vậy. Khi nó tỉnh giấc vào lúc gần tối thì thấy con Tàu vẫn nhồi lên, nhịp xuống, và những làn sóng trắng xoá thỉnh thoảng vẫn đánh ập lên sàn tàu và hắt vào chỗ nó ngồi qua cái lỗ cửa sổ. Tiếng nước vỗ rì rào bên mạn tàu cùng tiếng máy nổ ình ịch nghe rõ mồn một. Mùi biển mặn, mùi hơi người, mùi hơi ói tanh tanh nồng nồng, cùng hơi thở hổn hển tạo nên một cảm giác ghê ghê khó tả. Qua ngày thứ hai lênh đênh trên biển thì nó đã quen và không còn bị ói nữa nhưng nó cũng ăn rất ít vì không cảm thấy đói. Đồ ăn trên tàu là 2 lát bánh tét cùng một hớp sữa đặc được pha lỏng.
Khoảng ba hay bốn ngày sau, một buổi sáng trời âm u, mây đen giăng đầy như sắp có bão, nó bỗng nghe thấy tiếng xôn xao và tiếng chân qua lại rầm rầm trên sàn Tàu, và liền sau đó thì thấy pháo hiệu đỏ rực được bắn lên từ Tàu nó và nổ xoè trên bầu trời như một pháo bông. Thêm một tiếng bắn nữa và nó bắt đầu nghe thấy những tiếng kêu mững rỡ của những người ở bên trên. Qua khung cửa sổ nhỏ, nó trườn người nhìn lên thì thấy bóng một con Tàu sắt lớn sơn màu đen, sừng sững như một ngọn núi và đang từ từ ép sát vào chiếc Tàu của nó. Sau vài phút tưởng như nằm mơ, mọi người bỗng tỉnh táo và mừng rỡ vì biết là đã được thoát khỏi nguy hiểm. Chậm rãi theo mọi người leo lên sàn tàu, đám con nít và nó được ưu tiên leo lên cái thang bằng dây thừng dài trước tiên, những người lớn và thanh niên khác phải đứng đợi. Ngước đầu nhìn lên, nó thấy vài người da trắng râu rìa đang đứng trên con Tàu lớn chỉ chỏ và nói gì xuống dưới. Nó bám chặt cái thang dây với 2 tay và chậm rãi leo lên từng nấc một. Khi đã lọt vào trong con Tàu sắt khổng lồ, nó mới để mắt nhìn xuống và thấy con Tàu nhỏ bé của nó đang bồng bềnh trên làn nước đen ngòm đến rợn người. Biển mênh mông một màu xám xịt, cơn bão có lẽ đã đến gần. Nếu không được cứu vớt bởi chiếc Tàu hàng này, chiếc Tàu gỗ nhỏ bé của nó lẽ khó có thể qua được cơn bão ngày hôm ấy.
Nó gặp lại chị nó trên con Tàu sắt cùng vài người bạn gái mới quen của chị nó. Vì ai cũng nghĩ là Tàu sắt này có dư thừa quần áo nên lúc được vớt không người nào đem theo túi quần áo của mình mà chỉ có mặc mỗi bộ đồ trên người. Nó cũng giống như những người kia. Nhưng may mắn thay chị nó đã đem theo được một chiếc áo mưa dài và vài bộ đồ (của chị nó). Trao cho nó chiếc áo mưa, chị nó dặn dò đừng để mất vì đây là vật che mưa duy nhất mà 2 chị em nó còn giữ được. Đêm đó, cơn mưa như trút tất cả những sự giân dỗi lên con Tàu và trên những con người khốn khổ. Chị nó đã đi theo mấy người bạn gái lủi đâu mất tiêu, nó cũng đi theo vài thằng con trai nó quen được chui vào một phòng trống có cái giây xích bự bằng sắt - giây neo của Tàu - với hi vọng là sẽ tìm được giấc ngủ. Nhưng cái phòng này ồn ào quá, tiếng máy nổ nghe điếc lỗ tai, nên cuối cùng nó quyết định đi ra và đứng trên một chiếc thùng hàng, dưới cơn mưa để chờ cho đêm trôi qua, và mưa ngừng đổ. Nước đã lênh láng đến trên mắt cá chân, nó đứng trong chiếc áo mưa phủ đầu, trời vẫn tối, mưa vẫn rơi để mà thấm thía một cảnh đời .... tị nạn.
Trong suốt khoảng thời gian sống trên con Tàu sắt, nó được phát cho cơm cà ri nấu nhão xền xệt vào buổi sáng và buổi trưa. Cơm luôn được gói gọn trong một miếng giấy mỏng màu trắng trong, rất sạch sẽ nhưng ăn lạt lẽo vì thiếu muối và nước mắm, và phải ăn bằng tay vì không có muỗng. Mỗi chiều nó được 2 lát bánh mì mỏng hình vuông, một con cá mòi nhỏ bằng ngón tay và một muỗng sữa đặc trong cái dĩa giấy nhỏ để ... liếm vì không có nước sôi để pha. Sau khoảng 3 tuần lênh đênh trên Thái Bình Dương, nó và tất cả những người khác đã cập bến tại Hong Kong. Vào một buổi trưa trời nắng đẹp, một chiếc ca nô nhỏ của biên phòng HK chạy ra đón con Tàu nó. Trên chiếc ca nô này là những người lính Anh (English men) với quân phục màu hoa của nhảy dù, đầu đội mũ đỏ, trông rất là kiêu hùng. Nhìn bộ quần áo hoa, nó chợt nhớ đến những ngày tháng 4 của năm xưa, những ngày xa xôi xưa cũ mà nó đã trông thấy những màu áo này và cứ tưởng sẽ không bao giờ được gặp lại.
****
8 tháng sau, nó và chị nó đặt chân đến phi trường Los Angeles để khởi đầu một cuộc đời mới trong vòng tay của những người họ hàng, và sau cùng nó đã gặp lại 2 người anh mà nó hằng mong đợi. Cuộc đời không bao giờ trọn vẹn. Nó đã xa mẹ từ năm 14 tuổi, khi gặp lại mẹ nó 12 năm sau, nó đã khôn lớn, đang sinh sống tại một phương trời xa, và tiếp tục sống xa mẹ cho đến ngày hôm nay và có lẽ mãi về sau.
The End
(Viết tặng các bạn và anh LyKhach, người mà M. đã hứa là sẽ ghi lại những tháng ngày vượt biển tìm tự do)
