Trần Văn Bá & Anh Hùng Vô Danh
Tiểu Sử Trần Văn Bá
(trích từ www.TranVanBa.org)
Trình bày: Mino
Trần Văn Bá sinh ngày 14 tháng 5 năm 1945 tại tỉnh Sa Đéc, thuộc miền đồng bằng sông Cửu Long.
Năm 1966, dân biểu Trần Văn Vân, thân phụ của anh, bị cộng sản sát hại. Một thời gian ngắn sau đó, anh phải rời Việt Nam qua Pháp tiếp tục cuộc học vấn. Vào đại học, anh theo học ngành Chính Trị Kinh Doanh. Sau khi tốt nghiệp vào năm 1971, anh được đại học Nanterre mời vào làm phụ tá giảng viên. Đây là một sự kiện tương đối trớ trêu vì đại học này nổi tiếng là "ổ" của giới trí thức tả khuynh của Pháp trong khi anh Bá lại là một người đang hoạt động chống cộng sản.
Bên cạnh các công việc học hành và giảng huấn, anh tích cực hòa nhập vào các sinh hoạt thanh niên. Anh đóng góp một phần đắc lực vào cuộc tổ chức Trại Hè Nối Vòng Tay Lớn 1972, một sinh hoạt nhằm đưa các du học sinh về thăm nhà hầu tạo nhịp cầu thông cảm giữa các giới sinh viên quốc nội hải ngoại, đồng thời khuyến khích các bạn trở về phục vụ một khi tốt nghiệp.
Trong niên khóa 1972-1973, anh cáng đáng nhiệm vụ chủ tịch Tổng Hội Sinh Viên Việt Nam tại Paris. Cùng hội đoàn này, anh không ngừng chống lại các mưu toan tuyên truyền của hệ thống cộng sản tại Paris. Đồng thời anh cũng huy động mọi người cố gắng xây dựng một cộng đồng người Việt thuần nhất ở hải ngoại.
Năm 1975, Việt Nam Cộng Hòa thất thủ. Tại hải ngoại, tinh thần giới thanh niên sinh viên đi vào một thời kỳ hoang mang tột độ, nhiều hội đoàn người Việt còn đi tới việc giải thể. Cùng với các bạn đồng chí hướng, anh đã có mau lẹ những chọn lựa rõ ràng. Năm 1976 nhân hội Tết Bính Thìn, đứng trước hàng ngàn khán giả tại hội trường Mutualité và dưới khẩu hiệu "Ta còn sống đây", anh giương cao lá cờ nền vàng ba sọc đỏ để xác nhận ý chí tiếp tục đấu tranh chống cộng sản. Cử chỉ thoạt tầm thường này vô hình chung là một động tác quan trọng tái dựng niềm tin trong lòng biết bao nhiêu người và góp một phần vụ quan trọng vào việc bảo tồn một cộng đồng người Việt chống cộng tại nước Pháp và cả tại Âu Châu.
Ngày 6 tháng 6 năm 1980, anh khởi sự cuộc hành trình trở về quê hương để làm tròn bổn phận đối với đất nước. Tháng 9 năm 1984, anh bị bắt giữ tại Minh Hải
Khi các chuyến tàu vượt biển tìm tự do của người dân Việt Nam càng lúc càng lên cao, nhiều chiến dịch cứu trợ đã được khởi xướng ở khắp nơi. Tuy cũng tham gia tích cực vào các công tác liên đới này, anh vẫn luôn quả quyết rằng vấn đề tỵ nạn phải giải quyết tận gốc tức tại Việt Nam.
Ngày 6 tháng 6 năm 1980, anh khởi sự cuộc hành trình trở về quê hương để làm tròn bổn phận đối với đất nước.
Tháng 9 năm 1984, anh bị bắt giữ tại Minh Hải trong một chuyến công tác cùng với ông Mai Văn Hạnh. Tháng 12 cùng năm, tập đoàn cầm quyền cộng sản dàn dựng một phiên tòa để xử anh và 20 người khác. Bất chấp các phản ứng đến từ khắp thế giới, từ các cộng đồng người Việt qua dư luận báo chí sang đến các chính phủ các xứ tự do, tòa án cộng sản vẫn tuyên xử anh án tử hình.
Ngày 8 tháng 1 năm 1985, hung tin đã được truyền đi: nhà cầm quyền cộng sản tại Hà Nội đã thi hành lệnh xử bắn anh.
Nay anh đã khuất bóng nhưng ngọn đuốc Trần Văn Bá vẫn sáng rực để soi đường cho các thế hệ thanh niên đang nuôi chí hành động cho quốc gia, vì dân tộc.
oOo
Người Tù Ngoại Bản
Tác giả: LN Hoài Tử
Trình bày: Lacali
"Ôi! sơ xác những người trai cải tạo
Buông súng lầm, dang dỡ một quê đau"
Giữa rừng sâu một người tù "cải tạo"
Máu loang dài giốc cạn những hư hao
Thù đuối lý, gán tội đào đạn báu
Thịt da nào tranh cải chủ nghĩa cao
Má gầy khô, nhếch môi cười hé nửa
Niềm hân hoan bên ngưỡNg cửa tự do
Nửa héo hon non sông lần xưa hứa
Giờ đàn bò nhơi cỏ, luật giang hồ
Mưa rừng đổ máu anh hòa đất nước
Hơi thở tàn năm ngón bấu quê hương
Hồn thoát thai bỏ dần xa mộng ước
Đàng xác này ôm chặc núi sông buồn
Người bạn tù, đuổi đi chẳng được đến
Đêm âm thầm nhang sậy đốt hồn trai
Tiển bạn đi mà lòng đầy chinh chiến
Sót thân bằng, sống tủi nhục ai hay
Côn trùng xa đọc kinh buồn đưa xác
Đêm giữa rừng sao lác đác đưa ma
Người tù thức mù phong về vuốt mặt
Nhang sậy tàn nước mắt khô cũng oà
Ôi! sơ xác những người trai cải tạo
Buông súng lầm, dang dỡ một quê đau
Để trói tay giữa đàn bò ngoại tạo
Sử giống nòi cay đắng một vệt sầu
oOo
Vụ án xét xử Kinh Kha - Trần Văn Bá
(trích từ www.lichsuviet.cbj.net 24-12-2004)
Sưu tầm: Dã Quỳ
Trình bày: Mino
Ông Huỳnh Vĩnh Sanh vừa hô "Việt Nam Cộng Hòa muôn năm" liền bị một cán bộ cộng sản đưa tay bịt miệng
Ngày 08-01-1985, Trần Văn Bá, Lê Quốc Quân, Hồ Thái Bạch bị chế độ cộng sản VN hành quyết. Tên tuổi cả ba vị được ghi vào sử xanh của nước Việt hào hùng. Trần Văn Bá trở thành ngọn đuốc soi sáng con đường tranh đấu cho Tự Do của các thế hệ thanh niên Việt đi sau !
Ngày 14 tháng 12 năm 1984, "Tòa Án Nhân Dân Tối Cao" của chế độ cộng sản tại Việt Nam đã đem ra xử 21 người thuộc Mặt Trận Thống Nhất các Lực Lượng Yêu Nước Giải Phóng Việt Nam. Những người này đã bị bắt trong nhiều đợt từ 1981 đến 1984.
Phiên tòa diễn ra ở công trường Lam Sơn tai nhà hát lớn của thành phố Sàigòn và được phóng thanh ra ngoài đường cho một công chúng đông đảo tụ tập lại theo dõi. Các hình ảnh của phiên xử được báo chí ngoại quốc phát ra làm chấn động dư luận thế giới và gây bàng hoàng trong các cộng đồng người Việt tại hải ngoại.
Sau vài ngày xử ngắn ngủi, từ 14 đến 18 tháng 12, với các luật sư do chính nhà cầm quyền chỉ định, tòa án cộng sản đã tuyên án tử hình 5 người mà chúng nghĩ là chủ chốt :
1. Mai Văn Hạnh
2. Trần Văn Bá
3. Lê Quốc Quân
4. Huỳnh Vĩnh Sanh
5. Hồ Thái Bạch
Tráng sĩ Kinh Kha Trần Văn Bá sinh ngày 14-05-1945 tại Sa Đéc, thân phụ là dân biểu VNCH Chống Cộng Quyết Liệt Trần Văn Vân (bị VC ám sát chết). Anh là chủ tịch tổng hội Sinh Viên Việt Nam tại Paris 1972-1973.
Ông Hồ Thái Bạch bị công an dùng dùi cui đánh đập vì ông lên tiếng phản đối các bản án của tòa án cộng sản.
Trong những ngày sau đó, tại khắp nơi trên thế giới, các cộng đồng người Việt cũng như chính giới ngoại quốc đã không ngừng đẩy mạnh những nỗ lực để yêu cầu nhà cầm quyền xét lại vụ xử và hủy bỏ các bản án tử hình. Tại Paris, môi trường hoạt động tiên khởi của Trần Văn Bá, những cuộc biểu tình phản kháng Hà Nội và vận động cho các kháng chiến quân đã liên tục diễn ra trước sứ quán cộng sản cũng như tại nhiều điểm trong thành phố. Các báo chí, đài phát thanh, đài truyền hình đưa ra nhiều bài bình luận chê bai chế độ cộng sản Việt Nam, chính giới Pháp và ở nhiều nước Âu Châu đã gởi điện văn can thiệp cho những người bị nạn.
Ngày 3 tháng 1 năm 1985, niềm hy vọng của thế giới tự do được khởi sắc phần nào khi Hà Nội quyết định cải biến các bản án tử hiình của hai ông Mai Văn Hạnh và Huỳnh Vĩnh Sanh thành án chung thân.
Thực ra cái được gọi là sự "khoan hồng" này chỉ nhằm mục đích làm giảm bớt áp lực của quốc tế để nhà cầm quyền tiếp tục dự án dã man đã sắp đặt sẵn.
Diễn tiến vụ án
Ngày 14 tháng 12 năm 1984, 21 kháng chiến quân thuộc Mặt Trận Thống Nhất các Lực Lượng Yêu Nước Giải Phóng Việt Nam đã bị "Tòa Án Nhân Dân Tối Cao" của chế độ cộng sản Hà Nội đem ra xử.
Phiên tòa xảy ra tại Nhà Hát lớn Sàigòn tức tòa nhà Hạ Viện cũ của thời Việt Nam Cộng Hòa, một phần của cơ sở còn được biến thành khu vực triển lãm các "chiến lợi phẩm" tịch thu được từ các kháng chiến quân. Nhà cầm quyền còn cho phóng thanh diễn tiến vụ án tại công trường Lam Sơn và hàng ngàn người đã chen chúc nhau ngồi theo dõi.
Trong bản Cáo trạng đọc trước toà, công tố viên Trần Tế cho biết ngay từ đầu tháng 1/81, cơ quan an ninh cộng sản đã phát hiện một "tổ chức gián điệp" xâm nhập vào Việt Nam. Theo bản buộc tội, ông Lê Quốc Túy là chủ tịch của tổ chức, ông Mai Văn Hạnh là chủ tịch quốc ngoại, các ông Huỳnh Vĩnh Sanh và Hồ Tấn Khoa làm đồng chủ tịch quốc nội. Ông Trần Văn Bá được cử là tham mưu và ông Lê Quốc Quân phụ trách lực lượng vũ trang trong nước. Mặt khác, Trung quốc thì bị tố là đã tài trợ mạnh mẽ các hoạt động của "tổ chức gián điệp" và các lực lượng tình báo của Thái Lan và Hoa Kỳ cũng bị cho là đã hợp tác chặt chẽ vào "âm mưu phá hoại". Tết 1983, lực lượng an ninh cộng sản đã bắt được Hồ Tấn Khoa, Võ Văn Nhơn, Nguyễn Ngọc Hòa thuộc tổ chức "Hòa Giải Quốc Tế" gần với Cao Đài giáo. Những người bị bắt bị nghi là thông đồng với các ông Túy Hạnh để "cướp chính quyền" ở một số tỉnh miền tây. Con trai ông Khoa là Hồ Thái Bạch sau đó thay thế cha trong chức vụ đồng chủ tịch.
Công tố viên cộng sản cho biết có 10 toán gián điệp đã được tung vào trong nước tính từ đầu năm 1981 đến tháng 9 năm 1984. Toán thứ nhất về bằng đường bộ từ tỉnh Trat ở Thái Lan qua Cam Bốt, khi đến Châu Đốc thì bị bắt. Toán này có nhiệm vụ liên lạc với lực lượng của Hòa Hảo để chiếm đóng vùng Bảy Núi. Toán thứ 10 về bằng đường biển hồi đầu tháng 9/84 gồm 21 người trong đó có Mai Văn Hạnh, Trần Văn Bá. Toán này bị bắt ngay khi mới đổ bộ vào bờ biển. Tổng cộng, có tất cả 119 người đã bị bắt giam hoặc giết chết. Thiếu tá CA Nguyễn Tấn Dũng là người chỉ huy vây bắt vụ án này. Sau đó được phong làm đại tá Công An. Hiện nay là phó thủ tướng thường trực bạo quyền CSVN.
Ông Lê Quốc Túy đáng lẽ cũng đi cùng toán thứ 10 nhưng vì phải vào nhà thương ở Pháp để mổ gấp nên đã thoát nạn. Ngày 27 tháng 12, 1984, ông tổ chức họp báo tại Paris với tư cách là ủy viên đối ngoại của Mặt Trận Thống Nhất các Lực Lượng Yêu Nước Giải Phóng Việt Nam. Theo nguyệt san Nhân Bản số tháng 1/01/85 phát hành tại Paris, ông Túy xác nhận một số chiến sĩ của Mặt Trận đã bị bắt từ 1980. Một trận đánh lớn đã xảy ra tại Hà Tiên gây thiệt hại cho khoảng 120 cán binh Việt cộng. Không ai giúp Mặt Trận cho đến nay, việc Việt cộng cho rằng có Trung Hoa, Thái Lan hay Hoa Kỳ giúp là để phỉ báng cuộc cách mạng. Súng đạn do chính cán bộ cộng sản cung cấp hoặc bán lại. Trong số 21 người bị xử có 2 cựu cán bộ cộng sản. Mặt Trận không có căn cứ ở ngoại quốc, hoạt động ở Nam và Trung phần và tổ chức đí kháng tiêu cực, không tổ chức đánh lớn. Điểm duy nhất đúng trong bản Cáo trạng của cộng sản là Mặt Trận dự định tổ chức một vụ lớn và mạnh trong năm 1985. Vũ khí dùng để bảo vệ dân chúng, chất nổ nhằm tổ chức phá hoại tại Sàigòn.
Ngay từ phiên xử đầu tiên, nhà cầm quyền cộng sản đã cho thấy các bản án đã được sắp xếp sẵn. Sự hiện diện của các luật sư quốc doanh bên cạnh các bị cáo chỉ là một sắc thái cố hữu của các phiên tòa trong các chế độ cộng sản trên khắp thế giới. Làm sao có thể tin tưởng các luật sư do chế độ chỉ định khi ngay từ đầu những người này đã chấp nhận lời cáo buộc các thân chủ của họ "phản bội lại tổ quốc", "chống phá cách mạng" và cuộc biện hộ của họ chỉ xoay quanh việc xin nhà nước khoan hồng !
Trong các phiên xử, mỗi lần một bị cáo có toan tính đi ra ngoài những lời tự thú đã bị áp đặt trước là lập tức bị dàn áp. Ông Huỳnh Vĩnh Sanh vừa hô "Việt Nam Cộng Hòa muôn năm" liền bị một cán bộ cộng sản đưa tay bịt miệng, một cán bộ khác chạy tới còng tay lại ! Ông Hồ Thái Bạch bị công an dùng dùi cui đánh đập vì ông lên tiếng phản đối các bản án của tòa án cộng sản.
Sau 4 ngày diễn ra vụ án bịp bợm, các bản án đã được tuyên đọc trong suốt 2 giờ đồng hồ :
Tử hình : Mai Văn Hạnh, Trần Văn Bá, Lê Quốc Quân, Huỳnh Vĩnh Sanh, Hồ Thái Bạch.
Chung thân : Trần Nguyên Hùng, Tô Văn Hườn, Hoàng Đình My.?
Từ 8 đến 20 năm tù : số 13 kháng chiến quân còn lại.
Ghi chú : các hình trong trang này được lấy từ bán nguyệt san Hoa Thịnh Đốn Việt Báo số 1 đến 15 tháng 1 năm 1985.
Danh sách 21 kháng chiến quân bị nạn :
1 - Mai Văn Hạnh
2 - Trần Văn Bá
3 - Lê Quốc Quân
4 - Huỳnh Vĩnh Sanh
5 - Hồ Thái Bạch
6 - Trần Nguyên Hùng
7 - Tô Văn Hườn
8 - Hoàng Đình Mỹ
9 - Thạch Sanh
10 - Nguyễn Văn Trạch
11 - Nguyễn Bình
12 - Nguyễn Văn Hậu
13 - Nhan Văn Lộc
14 - Lý Vinh
15 - Trần NGọc Ẩn
16 - Cai Văn Hùng
17 - Đặng Bá Lộc
18 - Thái Văn Dư
19 - Trần Văn Phương
20 - Nguyễn Phi Long
21 - Nguyễn Văn Cầm
oOo
Anh Hùng Vô Danh
Tác giả: GS. Đằng Phương - Nguyễn Ngọc Huy
Trình bày: hatnang
Nhưng máu họ đã len vào mạch đất. Thịt cùng xương trộn lẫn với non sông
Họ là những anh hùng không tên tuổi
Sống âm thầm trong bóng tối mông mênh
Không bao giờ được hưởng ánh quang vinh
Nhưng can đảm và tận tình giúp nước.
Họ là kẻ tự nghìn muôn thuở trước
Đã phá rừng, xẻ núi, lấp đồng sâu
Và làm cho những đất cát hoang vu
Biến thành một dải sơn hà gấm vóc.
Họ là kẻ khi quê hương chuyển động
Dưới gót giầy của những kẻ xâm lăng
Đã xông vào khói lửa quyết liều thân
Để bảo vệ tự do cho tổ quốc.
Tuy công nghiệp không ghi trong sử sách
Tuy bảng vàng bia đá chẳng đề tên
Tuy mồ hoang xiêu lạc dưới trời quên
Không ai đến khấn nguyền dâng lễ vật.
Nhưng máu họ đã len vào mạch đất
Thịt cùng xương trộn lẫn với non sông
Và anh hồn chung với tấm tình chung
Đã hòa hợp thành linh hồn giống Việt.

